GẮN MÁC CÀI GIÁN TIẾP – ĐỂ KHÔNG BỎ PHÍ MẤT MỘT NGÀY YÊN BÌNH ( PHẦN 3 )

Phần 3 (tiếp theo và hết)

Chế tạo máng đưa mắc cài.

Bắt đầu bằng việc trùng hợp nhựa APC sau khi bác sỹ kiểm tra vị trí mắc cài lần cuối cùng. Tác giả sử dụng hệ thống Triad® Visible Light Curing System do bác sỹ Sondhi đề xuất (Hình 4). Sau khi trùng hợp được 5 phút trên Triad, kỹ thuật viên sẽ chọn một số mẫu để thiết lập quy trình chuẩn khi dập máng. Mục tiêu là tạo càng nhiều máng cá nhân trong vài phút trong labo càng tốt.

      

Hình 4: Triad® Visible Light Curing System

Đầu tiên tập trung một số ca cần làm, kỹ thuật viên sẽ khóa một số điểm lớn trên mắc cài như ball hook và attachments. Sử dụng vật liệu polyvinylsiloxane (PVS) cho việc này. Sau khi thực nghiệm với nhiều loại vật liệu tác giả khuyên dùng Aquasil Ultra LV® của DENTSPLY, vật liệu dùng cho hệ thống Invisalign. Hình 5 mô tả việc gắn vật liệu PVS. Chỉ đặt vật liệu BÊN DƯỚI của hook.

Sau khi khóa các phần gắn dính của mắc cài, tiếp theo là chuẩn bị một trong 2 máng cho mỗi cung hàm (một máng mềm có chứa mắc cài và một máng cứng ăn khớp phía trên máng mềm. Cả máng cứng và máng mềm đều dập được trên máy Biostar® (bằng kỹ thuật dập xuống). Trước tiên làm máng mềm bằng vật liệu Bioplast® (mouth guard) Tray. Mẫu thạch cao với mắc cài gắn kèm sẽ xếp vào khay dập sao cho lộ ít nhất 3mm phần nướu của mẫu so với mắc cài. Mục tiêu là “bẫy” mắc cài vào máng mềm với vị trí của vật liệu máng về phía nướu hơn so với răng. Điều này đảm bảo ép được mắc cài đồng nhất khi đang dán dính và bảo vệ bề mặt men chống tái nhiễm nước bọt.

Sau khi dập, cắt phần vật liệu thừa bằng kéo(để nguyên trên mẫu thạch cao) và xịt dung dịch silicone cách ly. Tác giả sử dụng Economist® của Slide Products Inc, sản phẩm đã được FDA thông qua để sử dụng trong miệng.

Bước tiếp theo là ấn mẫu thạch cao (có chứa cả máng mềm) vào khay dập sao cho ngang mức với viền phía nướu của mắc cài (Hình 6). Không đặt quá trồi lên trên khay dập vì làm như vậy máng cứng sẽ dính vào phần phụ của mắc cài, gây khó dễ trong việc tháo rời hai máng. Đặt mẫu trên khay dập quá gần rìa cắn sẽ làm cho máng cứng khó ăn khớp tốt. Máng này sẽ “trôi nổi” khi gắn mắc cài, gây ra dính đáp kém và áp lực không đủ trên máng mềm và mắc cài khi ép vào men. Điều này gây bong dán và vị trí mắc cài sẽ không tốt. Máng cứng cũng được chế tạo từ vật liệu Biostar với khay 0.75 Biocryl®.

Hình 6: Mẫu đặt trên khay dập ngang mức rìa phía nướu của mắc cài.

Tháo bỏ máng cứng và cắt bằng tay khoan thẳng. Tiếp theo tách máng mềm khỏi mẫu hàm bằng việc ngâm vào nước. Sau khi ngâm, nhẹ nhàng tháo máng khỏi mẫu và lấy bỏ vật liệu PVS. Nếu cần, etching nhẹ phần đế mắc cài (chỉ cần rất nhanh), nhổ cát và làm sạch bằng cồn. Kỹ thuật việc sẽ chiếu đèn ở mỗi đế mắc cài để chắc chắn APC Adhesive được trùng hợp toàn bộ. Bước cuối cùng và cũng là bước quan trọng là cắt đường giảm căng trên máng mềm ở mặt trong các răng cửa và răng nanh. Hình 7 mô tả động tác này. Điều này rất quan trọng để hỗ trợ việc tháo máng sau khi gắn mắc cài. Tác giả cho rằng không cần phải cắt đoạn máng mềm này như nhiều người khác đã khuyên (tác giả cho rằng việc không cắt đoạn sẽ làm cho mắc cài được gắn chính xác hơn). Bảo quản máng cho tới khi gắn trên miệng bệnh nhân.

Hình 7: Cắt đường giảm căng đứng trên máng mềm ở mặt trong để hỗ trợ tháo máng sau khi gắn mắc cài.

 

Tác giả sử dụng hệ thống cách ly nước bọt bằng kéo môi má thường quy của Theta Dri-Angles® với phần lá thiếc hướng về phía răng. Đặt Dri-angles giữa má và dụng cụ kéo má và giữa răng với lưỡi. Một “độc chiêu”: Dán Scotch® Tape giữa hai miếng lưỡi giúp cho việc đặt, lấy bỏ và cách ly miếng thiếc với răng dễ dàng hơn rất nhiều.

Phương thức cách ly này hoạt động rất hiệu quả khi gắn mắc cài 5X5 và hầu hết các trường hợp 6X6. Khi cần gắn răng 7, sẽ tốt hơn nếu chúng ta cho bệnh nhân dùng 1 liều Sal- Tropine®, là thuốc chống tiết nước bọt. Yêu cầu bệnh nhân uống 2 viên Sal- Tropine® 0.4mg một giờ trước khi gắn mắc cài đối với bệnh nhân nặng hơn 90pounds (tương đương 33kg). Nếu nhỏ hơn thì uống 1 viên.

Chống chỉ định đối với Sal- Tropine®:

  • Glaucome
  • Thường xuyên dùng thuốc chống hen hoặc thuốc dị ứng.
  • Phụ nữ có thai.

Chuẩn bị đưa máng.

Máng gắn mắc cài gián tiếp đã được làm trước lần hẹn gắn. Khi bệnh nhân tới, mỗi “đế mắc cài cá nhân” (làm từ APC Adhesive) sẽ được bôi để tăng gắn trên răng. Chỉ có 2 bước:

Bôi Add&Bond PrimerTM của Parkell, Inc lên đế mắc cài. Thổi khô nhẹ và đặt vào hộp một cách vững chắc. Với mục đích này có thể sử dụng hộp chứa máng duy trì.

Khi Bác sỹ “làm ướt răng” (hướng dẫn ở dưới), thì trợ thủ đặt các “điểm nút” vật liệu TransbondTM Supreme LV Adhesive lên mỗi mắc cài hoặc ống (Hình 12 và 13). Điều quan trọng là đặt máng đưa mắc cài ngay sau khi đặt nút composite. Bắt đầu chiếu đền để trùng hợp chất gắn. Đây là một bước kỹ thuật cần sự nhậy cảm về tiêu chuẩn và thời gian.

H13. Chỉ sử dụng một đầu chấm composite, nếu quá nhiều vật liệu sẽ dẫn đến việc vật liệu bị tràn khỏi răng.

 

Đặt định vị khay và trùng hợp chất gắn.

Khi bác sỹ ngồi vào ghế, trợ thủ đã chuẩn bị mọi bước trừ bước C2. Bác sỹ phải chắc chắn đã cách ly nước bọt tốt và thổi khô răng mỗi lần 1 hàm, nên bắt đầu từ hàm dưới trước. Bác sỹ ngay lập tức bắt đầu bôi lại TransbondTM Plus Self Etching Primer “nhanh nhất có thể”. (phải nhớ rằng bạn chỉ được làm ẩm lại men răng). Ngay sau đó phải thổi khô rất mạnh. Ngay lúc bạn làm ẩm lại và thổi khô men răng, trợ thủ sẽ chuẩn bị máng đưa mắc cài hàm dưới.

Đặt máng hàm dưới ngay sau đó. Cho bệnh nhân cắn vào miếng bông cuộn đặt vuông góc với cung răng tại vị trí răng cối nhỏ. Yếu cầu bệnh nhân cắn nhẹ, và quan trọng là cắn với áp lực liên tục. (Miếng cách ly nước bọt dri-angles mặt trong sẽ cho phép bệnh nhân làm việc này mà vẫn duy trì kiểm soát độ ẩm).

Ngay lập tức chiếu đèn trước tiên từ đường giữa, sau đó từ trung tâm sang bên kế cận, sau đó răng 7 phải, răng 6 phải, sau đó răng 7 và 6 bên trái. 7 tiếng “tách” này sẽ bắt đầu việc trùng hợp và đảm bảo mang sẽ duy trì vị trí tiếp xúc với men răng.

Giờ lặp lại quy trình này với hàm trên.

Sau khi bác sỹ đã gắn xong hai hàm, thì có thể rời khỏi ghế răng. Trên ghế răng nếu gắn thêm các răng 7 ở cả hai cung hàm thì sẽ lâu hơn tầm 6 tới 7 phút.

Sau đó trợ thủ sẽ chiếu đèn trùng hợp khoảng 10 giây (5 giây nếu dùng đèn plasma) chiếu xuyên qua cả máng cứng và máng mềm.

Điều quan trọng là cần phải chắc chắn là đỉnh hướng đèn phải chạm vào khay để đạt hiệu quả trùng hợp tối đa. Tiếp theo, trợ thủ sẽ tháo bỏ máng cứng. Sau đó trợ thủ tiếp tục chiếu đèn qua máng mềm trong ít giây (10 giây nếu sử dụng đền LED hoặc 5 giây với đèn plasma).

Tháo bỏ máng mềm.

Sau khi mắc cài đã được chiếu đèn 2 lần (một lần qua cả 2 máng và 1 lần chỉ qua máng mềm) thì tiếp theo là tháo bỏ máng mềm. Những đường cắt đứng giảm căng mặt trong từ ban đầu sẽ hỗ trợ việc tháo máng mềm này (Hình 7). Điều quan trọng là, việc cắt phân đoạn máng mềm là hoàn toàn không cần thiết như nhiều người đã khuyên. Máng mềm được tháo rất nhanh khỏi răng theo cách sau:

Bắt đầu bóc máng từ mặt trong của tất cả các răng cối hướng ra ngoài. Khi ống răng cối và sau đó là mắc cài được “giải phóng” khỏi máng mềm, thì tiếp tục bóc phía trước từ mặt trong ra ngoài. Nếu có kinh nghiệm thì có thể tháo toàn bộ máng ra một lần chỉ trong vài phút.

Kiểm tra độ bền dán ở mỗi mắc cài bằng cây thám châm. Cũng như vậy, dùng chỉ tơ chải mỗi điểm chạm để chắc chắn rằng TransbondTM Supreme LV Adhesive không chảy vào các vùng tiếp giáp làm dính hai răng lại với nhau.

Tiếp đó, đặt dây cung sơ khởi. Tác giả sử dụng dây Unitek Nitinol SE 014 của 3M vì thấy tác dụng tốt và không gây biến dạng.

Tác giả khuyên người đọc sử dụng tài liệu này kèm với các tài liệu ở www.orthobottomline.com để hướng dẫn kĩ thuật viên phối hợp quy trình gắn gián tiếp.

Gắn mắc cài gián tiếp không chỉ là một hệ thống, đó là một hành trình rộng mở.

Bài Viết Liên Quan